Lễ đón nhận bằng di tích lịch sử cấp tỉnh nhà thờ họ Hồ Đức PDF. In Email
Viết bởi Quản trị   
Thứ tư, 19 Tháng 9 2012 07:13

Ngày 16/9/2012 UBND huyện Quỳnh Lưu- Đảng uỷ- UBND xã Quỳnh Bảng long trọng tổ chức lễ đón nhận bằng di tích lịch sử cấp tỉnh nhà thờ họ Hồ Đức xóm Tân Xuân xã Quỳnh Bảng theo Quyết định số 3144/QĐ-UBND ngày 20/8/2012 của UBND tỉnh Nghệ An.

alt

                             

Về dự lễ đón nhận có đồng chí Hoàng thị Quỳnh Anh Phó Giám đốc Sở Văn hóa- Thể thao&Du lịch, Đại diện Phòng Quản lý Di sản Văn hóa; Ban Quản lý Di tích, Danh thắng; đồng chí Hồ Ngọc Dũng Ủy viên Ban thường vụ huyện ủy- Phó chủ tịch UBND huyện; đại diện các phòng ban huyện ủy- UBND huyện; Đài phát thanh và truyền hình; các đồng chí trong Ban thường vụ Đảng ủy, TTHĐND, Thành viên UBND, Chủ tịch UBMTQ; trưởng các ban, ngành, đoàn thể, hiệu trưởng 3 trường, các đồng chí Bí thư chi bộ- Xóm trưởng 18 xóm, Đại diện các dòng họ Đại tôn trong toàn xã, cùng toàn thể nhân dân và con cháu nội ngoại, dâu rễ của dòng họ Hồ Đức.

                        

alt

                                                   Văn nghệ chào mừng lễ hội

Dòng họ Hồ Đức làng Đồng Xuân (nay là thôn Tân Xuân, xã Quỳnh Bảng), tính từ cụ Thỉ tổ đến nay, đã trải qua 14 đời và đang ngày càng phát triển. Nhà thờ được xây dựng từ thời Hậu Lê, nơi tôn thờ Thỉ tổ Hồ Đức Đỏ cùng các vị tiên tổ trong dòng họ có công với dân, với nước, tiêu biểu là cụ Thỉ tổ Hồ Đức Đỏ, Hồ Đăng Cẩm, Hồ Đức Khoan...

alt

               Đ/c Hồ Đình Quỳnh Phó Bí thư Đảng ủy- Chủ tịch UBND xã khai mạc buổi lễ

-  Ông Thỉ tổ tên là Hồ Đức Đỏ, thuỵ Phúc Chính Phủ Quân, sinh năm Giáp Thìn (1664), vợ là Hồ Thị Định sinh năm Mậu Ngọ (1678).

Lúc bấy giờ tại mảnh đất làng Phú Đa, dân cư còn thưa thớt, đồng ruộng  mênh mông nhưng lại nhiễm phèn, hoa màu cằn cỗi, gia súc gầy mòn, đời sống của người dân hết sức khó khăn. Ông và vợ quyết định ở lại mảnh đất này cùng bà con cải tạo đất đai để trồng trọt và chăn nuôi. Nhờ được cải tạo nên đã bắt đầu cho thu hoạch, giúp người dân thoát khỏi cái nghèo và bản thân ông bà đã có thể tự lập. Chẳng mấy chốc, nhờ bàn tay chăm chỉ, cần mẫn, ông bà bắt đầu có của ăn của để, ông tậu thêm trâu bò, ruộng vườn, dựng vợ gả chồng cho các con. Những người con của ông gồm: 4 trai, 3 gái, đều theo nghiệp của cha mẹ, ở lại làng Phú Đa sinh sống, phát triển sự nghiệp. Đây chính là những hạt nhân đầu tiên của một dòng họ lớn sau này.

alt

         Đ/c Hồ Ngọc Dũng Ủy viên Ban TV huyện ủy- Phó chủ tịch UBND huyện đọc diễn văn

Ông mất ngày 23 tháng 2 năm Thìn, mộ táng tại lùm Giành, bãi Đông. Nhớ công ơn của ông, con cháu sau này đã xây dựng nhà thờ trên chính mảnh đất ông an cư lập nghiệp để làm nơi tưởng nhớ, tri ân vị tổ đầu tiên của dòng họ Hồ Đức.

- Theo gia phả họ Hồ Đức và sắc phong lưu tại nhà thờ: Ngũ Thế tổ Hồ Đăng Cẩm là hậu duệ đời thứ 5 của Thỉ tổ Hồ Đức Đỏ, ông tên chữ là Đức Nhuận, người xã Hoàn Hậu Đông, huyện Quỳnh Lưu, sinh giờ Dần, ngày 13 tháng 8 năm Đinh Sửu (1757). Cha là Hồ Đức Giao, mẹ là Hồ Thị Tân.

Hồ Đăng Cẩm sinh ra và lớn lên trong một gia đình gia giáo, thủa nhỏ có tiếng là thông minh, lanh lợi, lại thêm chút năng khiếu về võ nghệ nên ông xác định tiến thân bằng con đường võ nghiệp. Gia nhập lính ưu chưa được bao lâu ông đã thăng tới chức Thị hầu tả thuyền.

alt

                    Đ/c Hoàng Thị Quỳnh Anh Phó Giám đốc Sở VH-TT&DL trao bằng

Thời trị vì của vua Lê Hiển Tông, quyền hành đều nằm trong tay Tĩnh Đô vương Trịnh Sâm. Do yêu quý Đặng Thị Huệ nên đã phế con trưởng là Trịnh Khải đã đến tuổi trưởng thành để lập con thứ là Trịnh Cán mới lên 5 tuổi làm thế tử, em trai của Đặng Thị Huệ là Đặng Mậu Lân cũng cậy thế làm càn, khiến cho dân chúng thêm điêu đứng, khổ sở. Năm 1782 Trịnh Sâm mất, Trịnh Cán được Quận huy Hoàng Đình Bảo và Đặng Thị Huệ hậu thuẫn đưa lên ngôi chúa, nhưng Chúa tuổi còn nhỏ nên mọi quyền hành đều nằm trong tay phe cánh Quận Huy, bọn họ mặc sức lộng hành. Đến lúc này, binh lính, đặc biệt là lính Ưu binh không thể ngồi yên nhìn công lao gây dựng đất nước của vua Lê - chúa Trịnh mất dần trong tay bọn loạn thần. Họ quyết định hành động.

Năm đó, Hồ Đăng Cẩm vừa tròn 25 tuổi, đã trải qua các chức Đội trưởng, rồi Bách hộ, cũng như những anh em binh lính khác, ông thấy bất bình và căm phẫn trước những việc làm dưới thời Trịnh Sâm, Trịnh Cán nên đã đồng sức cùng lính Ưu binh theo khẩu hiệu “Tam quân phò chính” phế Trịnh Cán đưa Trịnh Khải lên ngôi chúa. Năm sau (1783) lính Tam phủ cùng vớí Trịnh Khải tâu lên vua Lê Hiển Tông lập Lê Duy Khiêm - con trưởng của Thái tử Lê Duy Vĩ lên làm  Hoàng Thái tử (vua Lê Chiêu Thống sau này). Nhân sự kiện này nhà vua đã mở yến tiệc chiêu đãi và phong thưởng rất hậu và ban sắc cho những người có công tôn phò.

alt

                Đ/c Hoàng Thị Quỳnh Anh Phó Giám đốc Sở VH-TT&DL phát biểu ý kiến

Riêng Hồ Đăng Cẩm đã vinh dự được vua Lê Hiển Tông phong 2 sắc trong cùng một ngày. Sắc thứ nhất ghi nhận công lao của ông “Nhâm dần niên đồng dữ nội ngoại chư quân dực đới hữu công” (Tạm dịch: Năm Nhâm Dần cùng với các quân trong ngoài có công tôn phù) nên được thăng lên Phấn lực tướng quân hiệu lệnh ti tráng sĩ, bách hộ, theo quan chế thời bấy giờ thì “Phấn lực tướng quân, hiệu: Lệnh ti tráng sĩ, bách hộ” hàm chánh lục phẩm, tước 8 tư. Sắc phong chưa ráo mực, ông lại được vua phong sắc lần 2, sắc cũng nêu rõ ông là người “Nhâm dần niên đồng dữ nội ngoại chư quân dực đới tự vương hữu công” (tạm dịch: Năm nhâm dần cùng với các quân trong ngoài có công tôn phù Tự vương) vì vậy xứng đáng được thăng Phó thiên hộ, Tráng tiết tướng quân hiệu lệnh ti xuy kim tráng sĩ thiết kỵ úy” hàm tòng ngũ phẩm, tước 9 tư. Về đời tư: ông lấy vợ là người họ Nguyễn (không rõ tên), ông bà có với nhau 8 người con (4 trai, 4 gái). Ông mất vào ngày 29 tháng 8 năm Canh dần (1830), hưởng thọ 73 tuổi, mộ táng tại cồn Vườn Lình. Đến thời vua Minh Mệnh, biết Hồ Đăng Cẩm là người có công với dân, với nước, vua hạ sắc truy phong ông là “Trung đẳng thần” ,

- Ông Hồ Đức Khoan (đời thứ 8). Theo gia phả họ Hồ Đức: Vào năm Thiệu Trị thứ 2 (1842), vợ ông Hồ Đức Thiều là bà Hồ Thị Kham, nằm mộng thấy sao sa xuống ở sân, vào giờ Hợi, ngày mồng 6 tháng 2 năm ấy, bà sinh ra một bé trai kháu khỉnh. Đứa bé ấy chính là Hồ Đức Khoan, hậu duệ đời thứ 8 của Thỉ tổ Hồ Đức Đỏ, ông còn có tên chữ là Kính Phu.

alt

                 Đ/c Hồ Đăng Thành Bí thư Đảng ủy- Chủ tịch HĐND xã phát biểu ý kiến\

Hồ Đức Khoan là con trai thứ 3 trong gia đình có 6 anh chị em (1 trai, 5 gái) mới lên 9 tuổi, ông đã mồ côi cha, một mình mẹ tần tảo nuôi 6 anh chị em khôn lớn. Có 1 người con trai duy nhất, lại thấy con thông minh, hoạt bát, ham học nên người mẹ đã tạo mọi điều kiện để con được ăn học tử tế. Lúc nhỏ, cậu học với chú họ là Hồ Đạt Thuận, học đến đâu biết đến đó, người chú rất mừng, liền bàn với mẹ gửi ông sang Quỳnh Đôi học với thầy Tú họ Lê.

Sau bao năm dùi mài kinh sử, mùa xuân năm Mậu Thìn (1868) Hồ Đức Khoan thi đậu tú tài. Nhưng “chưa được bao lâu lại phát sinh hiềm khích trong Nho hội và Binh đinh, đến nỗi mâu thuẫn nhau”. Khi ấy, ông cùng một số người nữa quyết định dời chỗ ở, tìm một mảnh đất mới làm nơi đứng chân và lập nghiệp. Ông nhận thấy ở làng Quỳnh Tụ (Quỳnh Xuân ngày nay) có khoảng đất nước mặn bỏ hoang có thể ở được, nên cùng họ góp tiền mua và bắt đầu chủ trì công việc khai hoang nhưng do lực mỏng nên thất bại.

Không nản chí, ông quyết định mời Phạm Đình Toái, nguyên làm quan Án sát tỉnh Sơn Tây, cũng là người khoa bảng trong huyện về chủ trì và giúp đỡ việc khai hoang.

Mùa thu năm Nhâm Thân (1872) ngày mùng 10 tháng 8 Phạm Đình Toái từ Hà Nội về, sau khi nghe Hồ Đức Khoan trình bày, vừa đúng ý mình, ông đồng ý chủ trì việc lập làng mới và giao cho Hồ Đức Khoan lo mọi việc chính từ khai khẩn đến mộ dân.

Hồ Đức Khoan bắt tay ngay vào công việc; trước hết, ông cùng ông Hoàng Soạn tiếp tục công cuộc khai hoang trước đây còn dang dở.  Cuối năm 1872 để cổ động lòng dân và tạo niềm tin cho mọi người, ông đã dẫn đầu một nhóm người gồm các ông Văn Thông, Văn Nhã, Bá Vững đến ở và làm nhà trước, dần dần lần lượt mọi người theo về. Đến năm 1873 ông Phạm Đình Toái cũng dời làng cũ (Quỳnh Đôi) về làm nhà trên vùng đất mới càng củng cố thêm niềm tin cho người dân về nơi dừng chân mới của họ. Cái tên mới của làng: Tân Mỹ có ý nghĩa như một niềm tin về một tương lại tươi sáng đang đợi họ phía trước.

Vừa lo khai khẩn, gây dựng vùng đất mới nhưng ông vẫn không quên dùi mài kinh sử, những mong đỗ đạt cao để làm rạng danh quê hương, dòng họ. Khoa thi năm Quý Dậu (1873), một lần nữa ông lại đỗ Tú tài (nên dân làng gọi là ông Tú Kép). Dân làng tổ chức đón mừng, vì ông chính là người khai khoa của làng mới nên nhân lúc Đình làng vừa xây xong họ đặt luôn tên đình là “Đình Mừng Khoa”.